Đỗ Hiến
Khi đó, năm 1987, người dân Việt Nam hãy còn rất e dè khi tiếp xúc với người nước ngoài. Để thoát khỏi tình thế này, Nicolas lân la… vào chợ. “Ở chợ, tôi có thể nói chuyện với bất cứ người bản địa nào”, Nicolas hóm hỉnh kể lại.
Mỗi năm, Nicolas đều đặn thực hiện vài chuyến đi về Việt Nam. Thành quả của những chuyến đi trong hơn 20 năm qua là ba quyển sách ảnh về Việt Nam được phát hành tại Pháp và hai triển lãm ảnh “Việt Nam, cuộc sống trỗi dậy”, “Đứng, cuộc sống chảy đi” diễn ra vào năm 2007 và 2008 tại Hà Nội và TP.HCM.
Nicolas lập gia đình năm 1994 với một người phụ nữ Pháp gốc Việt. Đó là bác sĩ Hoàng Xuân Diệu, cháu ruột của giáo sư Hoàng Xuân Hãn, một nhà trí thức nổi tiếng. Dù vợ là người Việt, nhưng do sinh ra và lớn lên ở Pháp, nên Nicolas bảo rằng bà xã của anh sống giống một người Pháp hơn, và chính Nicolas là người đầu tiên đưa cô về thăm Việt Nam và chỉ cho cô những cảnh đẹp của quê hương đất nước. Nicolas cũng cho rằng tình yêu dành cho Việt Nam của anh còn lớn hơn cả vợ. Hai cậu con trai cũng chỉ lấy họ của cha và mang tên Việt, không có tên Pháp.
Mặc dù gia đình ở Pháp, nhưng Nicolas khẳng định: “Nếu lúc nào đó tôi không thể ở Pháp, tôi sẽ ở lại Việt Nam, đó là chuyện bình thường”. Lý giải sự gắn bó của mình, Nicolas cho rằng không chỉ là do mối liên hệ gia đình, mà còn chính là phẩm chất con người nơi đây, đó là sự coi trọng gia đình, tính đoàn kết và tình bằng hữu.
“Một người bạn Pháp của tôi bảo rằng khi có bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc sống của tôi, người mà tôi có thể trông cậy vào không phải là anh trai của tôi, mà chính là những người bạn Việt Nam này. Đối với tôi điều đó hầu như đúng. Tôi không ám chỉ anh trai của tôi nhưng quả thực tôi luôn luôn có những người bạn Việt Nam ở bên cạnh tôi bất cứ lúc nào tôi cần”.
Có những lúc Nicolas cảm thấy xúc động thật sự khi mình được mọi người đối xử như người trong gia đình. Đó là lần anh đến nhà một người bạn và mẹ của cô bạn đốt mấy nén hương đưa cho anh để anh thắp cho người cha đã khuất của cô. Sau đó, cô bạn anh mới lém lỉnh hỏi: “Hồi nãy anh khấn cụ bằng tiếng gì đấy?” Chính vì những điều nho nhỏ như vậy mà Nicolas luôn cảm thấynơi đây có những không gian dành cho bản thân mình.
Với không ít người nước ngoài đến Việt Nam, giao thông hay khói bụi là vấn đề họ hay phàn nàn nhất. Nicolas lại nhìn nhận những thay đổi này ở một khía cạnh tích cực: “Đó là dấu hiệu tốt cho thấy người dân có tiền để mua xe máy. Khi tôi đến đây lần đầu tiên, nhiều người dân ở đây hãy còn thiếu cái ăn”.
Tuy nhiên có những thay đổi khiến anh tiếc nuối. Cuối tháng 11 vừa qua, Nicolas viếng các ngôi chùa ở phía Bắc. Những đổi thay ở đây làm anh bức xúc. Đó là việc xây mới chùa Phật Tích trên nền di tích hay những thay đổi ở chùa Tây Phương.
Nicolas tiếc rẻ: “Những di tích này là một phần của lịch sử. Nếu chúng ta phá hủy chúng và xây mới lại, đó không còn là lịch sử nữa… Hầu hết khách du lịch đến Việt Nam do bị thu hút bởi văn hóa, họ muốn tìm thấy lịch sử, di sản, nếu biết di sản này đã được làm mới, họ sẽ không đến nữa. Lịch sử cứ trôi đi… đối với những thế hệ con cháu các bạn, của tôi, khi chúng đến đây chúng mong muốn nhìn thấy di tích lịch sử. Nhưng chúng không có cơ hội đó vì chúng ta đã hủy rồi…”
Nicolas ít nhất mười lần đi xuyên Việt. Bên cạnh việc tìm kiếm những hướng đi mới, anh cũng thường xuyên trở lại thăm những nơi đã đến, để cảm nhận những đổi thay của đất nước, thiên nhiên và con người. Những đổi thay như trên liệu có làm vơi bớt tình cảm Nicolas dành cho Việt Nam?
“Không!” Nicolas không do dự, “Việt Nam vẫn đẹp như trong giấc mơ của tôi. Tôi sẽ đi xuyên Việt lần nữa khi tôi thiết kế được cho mình một lộ trình khác mà trục chính không phải là quốc lộ 1 nữa”.